Viêm quanh khớp vai

Viêm quanh khớp vai là gì ?

Viêm quanh khớp vai

Viêm quanh khớp vai là bệnh lý đặc trưng bởi đau khớp vai, không kèm theo hạn chế vận động khớp vai hoặc chỉ hạn chế vận động do đau. Nguyên nhân do thoái hóa gân, viêm các tổ chức phần mềm quanh khớp ( gân cơ, dây chằng, bao hoạt dịch ) không có tổn thương sụn và xương khớp vai, không do chấn thương mới khớp vai và không do vi khuẩn.

Viêm quanh khớp vai thông thường là thể hay gặp nhất của hội chứng viêm quanh khớp vai, chiếm khoảng 90% số bệnh nhân bị viêm quanh khớp vai. Định nghĩa trên không bao gồm viêm dính bao khớp ổ chảo-cánh tay, đây là thể bệnh riêng.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân

Thoái hóa gân, viêm gân chóp xoay, có thể có hoặc không có lắng đọng calci, có thể rách, đứt gân chóp xoay không hoàn toàn hoặc hoàn toàn.

Viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai

Viêm bao hoạt dịch và viêm gân dài cơ nhị đầu cánh tay.

Yếu tố nguy cơ

Tuổi bệnh này hay gặp ở người 40-60 tuổi

Giới thể bệnh này gặp ở nam nhiều hơn nữ

Nghề nghiệp: người lao động chân tay mà động tác lao động thường phải giơ tay cao hơn 90 độ, như thợ trát trần nhà, thợ quét sơn, công nhân sửa máy khi máy ở vị trí cao hơn vai, người lao động hoặc học tập có thói quen chống tỳ khuỷu tay lên bàn thường bị viêm khớp vai bên đó. Các nghề nghiệp gây rung sóc khớp vai kéo dài như lái xe đường dài, lái máy xúc, máy ủi, công nhân xây dựng phải sử dụng máy đầm nhiều. Các công việc gây ra các vi chấn thương cho khớp vai. Các động tác gây căng giãn gân cơ khớp vai lặp đi lăp lại kéo dài như chơi tennis, gol,ném lao…

Tiền sử có chấn thương vùng khớp vai: ngã chống thẳng bàn tay hoặc khuỷu tay xuống nền gây lực dồn lên khớp vai, các chấn thương phần mềm vùng khớp vai.

Tiền sử có gãy xương cánh tay, xương đòn, xương bả vai

Tiền sử phẫu thuật vùng khớp vai, phẫu thuật hoặc nắn gãy xương các xương liên quan đến khớp vai như xương cánh tay, xương đòn, xương bả vai.

Những người phải bất động khớp vai một thời gian dài như sau đột quỵ, giai đoạn phục hồi sau các bệnh nặng, bất động do gãy xương cánh tay…

Người bị mắc một số bệnh mạn tính như viêm khớp dạng thấp, đái tháo đường, bệnh ở phổi và lồng ngực, đột quỵ não, cơn đau thắt ngực.

Triệu chứng lâm sàng

Tiền sử

Cần hỏi kỹ tiền sử để phát hiện các yếu tố nguy cơ, bao gồm :

Tuổi: bệnh thường gặp ở tuổi 40-60

Trong thể bệnh này thì giới nam thường gặp nhiều hơn giới nữ.

Nghề nghiệp: Cần khai thác kỹ công việc hàng ngày, nhất là phải thường xuyên lặp lại các động tác mà bàn tay phải với cao hơn mỏm cùng vai, các công việc gây rung sóc nhiều cho cánh tay và vai, các thói quen lao động và sinh hoạt gây chèn ép khoang cùng quạ, chẳng hạn ngồi chống khuỷu tay xuống bàn khi làm việc bàn giấy.

Tiền sử chấn thương khớp vai: ngã xuống chống thẳng tay hoặc khuỷu tay xuống nền làm lực dồn lên khớp vai, chấn thương phần mềm khớp vai.

Tiền sử phải bất động khớp vai thời gian dài, chẳng hạn bất động do gãy xương.

Tiền sử bị gãy xương: gãy xương cánh tay, gãy xương đòn, gãy xương bả vai. Tình hình can xương, liền thẳng trục hay lệch trục.

Tiền sử bị các bệnh mạn tính: như đái tháo đường, viêm khớp dạng thấp, bệnh cường giáp, đột quỵ não, cơn đau thắt ngực, các bệnh của phổi và lồng ngực.

Triệu chứng cơ năng

Viêm quanh khớp vai

Bệnh nhân không sốt, toàn thân bình thường

Đau khớp vai: đây là triệu chứng nổi bật

Khởi phát đau thường từ từ và tăng dần nhiều ngày hoặc hàng tháng.

Tính chất đau:

  • Đau cả khi nghỉ, thường đau tăng về đêm và đau tăng khi vận động cánh tay.
  • Đau nhiều về đêm, đôi khi bệnh nhân phải tỉnh giấc lúc nửa đêm do đau. Đây là đặc điểm đau do viêm. Ban đêm khớp vai không hoạt động, lượng máu cung cấp cho gân chóp xoay và các tổ chức khác của khớp vai tăng, làm tăng phù nề tổ chức viêm, đồng thời trương lực cơ khi ngủ giảm và khi nằm ngửa khớp vai thường cao hơn mặt giường, trọng lượng của cánh tay kéo chỏm lồi cầu ra xa ổ chảo làm các cấu trúc viêm như gân chóp xoay , các bao hoạt dịch bị kéo căng và kích thích gây đau tăng. Nếu bệnh nhân dùng một gối, đệm xuống dưới cánh tay để đỡ cánh tay thì sẽ giảm được đau khi ngủ.
  • Khi vận động cánh tay thấy đau ở khớp vai tăng, nhất là tới gần cuối tầm vận động. Đau thường lan tỏa, bệnh nhân khó xác định chính xác điểm đau. Đau làm bệnh nhân không giám vận động cánh tay hết tầm chứ không phải do hạn chế vận động của khớp vai. Nếu bảo bệnh nhân thư giãn thả lỏng tay, thầy thuốc vận động thụ động nhẹ nhàng, cánh tay bệnh nhân vẫn vận động được hết tầm. Đây cũng là nghiệm pháp để phân biệt với viêm quanh khớp vai thể đông cứng.

Vận động khớp:

  • Khi dạng cánh tay chủ động, khởi đầu động tác dạng từ 0 đến 30 độ đầu tiên bệnh nhân đau ở khớp vai và cảm thấy khó vận động, khi động tác dạng cánh tay vượt quá 30 độ thì đau khớp vai giảm. Đây là triệu chứng tương đối đặc trưng cho tổn thương gân cơ trên gai, có thể viêm hoặc rách không hoàn toàn.
  • Nếu khởi đầu động tác dạng cánh tay chủ động từ 0 đến 30 độ đầu tiên, bệnh nhân không thực hiện được, phải dùng tay lành để giúp tay bệnh, nhưng khi vượt qua 30 độ thì động tác trở nên dễ dàng hơn. Triệu chứng này gợi ý rách đứt hoàn toàn gân cơ trên gai mà được một số tác giả gọi là thể giả liệt.
  • Khi dạng và nâng cánh tay lên trên 90 độ, ra trước 30 độ ở tư thế bàn tay sấp, xoay trong cánh tay để ngón cái hướng xuống đất, bệnh nhân rất đau ở vai. Sau đó xoay ngửa bàn tay, bệnh nhân thấy đỡ đau. Đây là triệu chứng gợi ý viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, vì thế này mấu động lớn chạm vào dây chằng cùng-quạ ép vào bao hoạt dịch. Khi xoay ngửa bàn tay, mấu động lớn xoay ra ngoài và chui xuống dưới dây chằng cùng quạ, bao hoạt dịch không còn bị ép nữa.

Xoay cánh tay vào trong chủ động theo trục dọc cánh tay bằng cách cho bệnh nhân làm động tác gãi lưng. Đưa bàn tay ra sau lưng để cẳng tay vuông góc với cánh tay, mu tay áp vào lưng sau đó đưa bàn tay ra xa lưng, bệnh nhân thấy rất đau ở khớp vai, không làm được động tác hoặc làm được rất hạn chế do đau. Triệu chứng này là biểu hiện của viêm gân chóp xoay, động tác này làm kéo căng gân cơ trên gai, gân cơ dưới gai và cơ tròn nhỏ.

Khi cánh tay bệnh nhân vận động đột ngột dù chủ động hay thụ động, bệnh nhân thấy đau chói ở khớp vai, một lúc sau đau dịu dần. Chẳng hạn bệnh nhân bị rơi một vật quý, vội vàng với cánh tay bên khớp vai đau để đỡ vì sợ vật quí bị vỡ, thấy đau chói ở khớp vai. Cũng vậy, khi bệnh nhân đang dạng tay bên vai đau, đột ngột bị người khác va vào cánh tay, bệnh nhân sẽ đau chói ở vai.

Bệnh nhân có thể có cơn đau cấp tính ở khớp vai khiến bệnh nhân không dám cử động khớp vai do viêm bao hoạt dịch vi tinh thể. Trường hợp này xảy ra khi vùng lắng đọng calci ở gân cơ trên gai gây hoại tử và làm thông với bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai. Các tinh thể calci từ gân cơ trên gai tràn vào bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai. Bạch cầu thực bào các tinh thể calci, do không tiêu hủy được tinh thể calci, bạch cầu bị phân hủy và giải phóng ra các enzyme và các cytokine viêm làm khởi phát một đợt viêm cấp tính, gọi là viêm bao hoạt dịch vi tinh thể. Bệnh nhân đau dữ dội, có thể thấy dưới mỏm cùng vai nề, ấn rất đau, da căng bóng nhưng không đỏ. cơn đau cấp có thể kéo dài hàng tuần rồi giảm dần.

Triệu chứng thực thể

Viêm quanh khớp vai

Nhìn : khớp vai gần như bình thường , không có sưng nóng đỏ. Nếu đứt gân chóp xoay hoàn toàn mà để thời gian kéo dài có thể thấy teo cơ vùng khớp vai và cánh tay. Nếu có cơn đau khớp vai cấp do viêm bao hoạt dịch vi tinh thể, có thể thấy vùng dưới mỏm cùng vai nề, da căng bóng nhưng màu sắc da bình thường.

Tìm điểm đau: Xác định điểm đau giúp định hướng mô bị tổn thương, có 7 điểm đau liên quan đến bệnh lý viêm quanh khớp vai.

Điểm đau ở mấu động lớn: đây là điểm bám gân cơ chóp xoay. Cách xác định như sau: sờ dưới ngoài mỏm cùng vai, cho bệnh nhân dạng khép cánh tay sẽ thấy mấu động lớn chuyển dưới tay.

Điểm đau ở mấu động nhỏ : đây là điểm bám của gân cơ dưới vai. Cách xác định: tay bệnh nhân khép sát mình, xoay ngửa bàn tay, sờ phía trước dưới lồi cầu, chỗ gờ lên phía trên trong rãnh nhị đầu là mấu động nhỏ.

Điểm đau ở rãnh nhị đầu: Trong rãnh nhị đầu có gân dài cơ nhị đầu và bao hoạt dịch của nó. Cách xác định, bệnh nhân để tay khép theo thân mình, xoay ngửa bàn tay, sờ mặt trước lồi cầu thấy một rãnh lõm ngăn cách mấu động lớn ở ngoài, mấu động nhỏ ở trong, đó là rãnh nhị đầu. Ấn giữ một ngón tay vào rãnh nhị đầu, đưa cánh tay bệnh nhân ra trước rồi hạ xuống để rãnh nhị đầu trượt trên gân nhị đầu, bệnh nhân rất đau.

Điểm đau dưới mỏm cùng vai: đây là vị trí khám bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai. Cách xác định, bệnh nhân để xuôi theo thân mình, sờ thấy chỗ lõm dưới mỏm cùng vai lùi ra sau 1cm.

Khe khớp ổ chảo, cánh tay: cách xác định, bệnh nhân để xuôi tay theo thân mình, khe khớp được sờ thấy ở bờ dưới ngoài của mỏm quạ. khe khớp đau khi có viêm bao hoạt dịch hoặc bao khớp ổ chảo.

Khe khớp cùng-đòn: đau khi có viêm khớp cùng đòn. Cách xác định, sờ theo xương đòn từ trong ra ngoài, khi chạm vào mỏm cùng gờ lên thì dừng lại. cho bệnh nhân vận động cánh tay ra trước, ra sau sẽ thấy mỏm chuyển động, trong khi đầu ngoài xương đòn đứng yên. Nếu viêm khớp cùng đòn, vận động khớp vai có thể gây đau.

khe khớp ức đòn : đây là khớp nông nằm ngay dưới da, khi viêm có thể sưng nóng đỏ. Cách sờ, sờ theo xương đòn từ ngoài vào trong tới sát xương ức dừng lại, cho bệnh nhân nâng tay và hạ tay ở tư thế dạng cánh tay đến 90 độ sẽ thấy xương đòn chuyển động còn xương ức đứng yên. Viêm khớp ức đòn hầu như không ảnh hưởng đến khớp vai.

Cận lâm sàng

Siêu âm khớp vai

Siêu âm khớp vai là phương tiện chẩn đoán hình ảnh không xâm nhập rất có giá trị trong phát hiện các tổn thương ở khớp vai. Có thể thăm dò hình ảnh của các gân chóp xoay, gân cơ nhị đầu, bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, bao khớp và bao hoạt dịch khớp ổ chảo-cánh tay. Có thể làm siêu âm nhiều lần để đánh giá tiến triển của tổn thương. Trong trường hợp tổn thương chỉ ở mức độ nhẹ, hình ảnh siêu âm khớp vai có thể bình thường.

X quang khớp vai

X Quang khớp vai

Phim chụp khớp vai trong viêm quanh khớp vai không có tổn thương xương và khớp vai. Một số trường hợp có  thể thấy hình ảnh bào mòn mấu động lớn, hoặc lắng đọng calci ở gân trên gai.

Chụp X-quang khớp vai thông thường còn cần thiết để loại trừ các bệnh lý có tổn thương đầu xươn, sụn khớp, gãy xương, các ổ di căn lên khớp vai.

Chụp cộng hưởng từ

Chụp MRI cho phép chẩn đoán chính xác các tổn thương phần mềm khớp vai. Có thể thấy thoái hóa và viêm phù nề trong gân cơ chóp xoay, rách gân chóp xoay không hoàn toàn hoặc hoàn toàn, lắng đọng calci trong gân cơ chóp xoay, viêm dày bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai, tràn dịch trong bao hoạt dich dưới mỏm cùng vai, viêm phù nề gân cơ nhị đầu, đứt gân dài cơ nhị đầu, viêm tràn dịch bao hoạt dịch gân dài cơ nhị đầu, viêm dày bao khớp ổ chảo-cnahs tay, tràn dịch trong khớp ổ chảo-cánh tay.

Chẩn đoán

Chẩn đoán viêm quanh khớp vai thể đơn thuần chủ yếu dựa vào lâm sàng và chụp Xquang thường để loại trừ các tổn thương sụn và xương khớp vai. Chẩn đoán xác định khu mô tổn thương bằng siêu âm hoặc phim chụp cộng hưởng từ.

Chẩn đoán bệnh

Viêm quanh khớp vai

Đau khớp vai với tính chất đau do viêm: đau cả khi nghỉ, đau tăng khi vận động, thường đau nhiều về đêm. Có thể có cơn đau cấp tính nếu viêm bao hoạt dịch vi thể dưới mỏm cùng vai.

Nhìn khớp vai hoàn toàn bình thường, không sưng, không nóng, không đỏ. Nếu trong đợt đau cấp tính do viêm bao hoạt dịch vi thể có thể thấy nề nhẹ dưới mỏm cùng vai, nhưng da chỉ căng bóng mà không nóng đỏ.Toàn thân bình thường, không sốt, bạch cầu trng máu không tăng.

Có điểm đau vùng khớp vai khi thăm khám , khi vận động khớp vai đau tăng , nhất là vận động chủ động đến cuối tầm. Nhưng nhiều trường hợp không tìm thấy điểm đau rõ ràng mà cảm giác đau sâu lan tỏa trong khớp vai.

Không hạn chế vận động khớp vai. Tuy nhiên có thể hạn chế vận động chủ động đo đau, nhưng vận động thụ động vẫn có thể đạt được hết tầm.

X quang thường quy khớp vai không thấy tổn thương xương và sụn khớp. Có thể thấy vôi hóa phần mềm quanh khớp, hay gặp là vôi hóa gân trên gai. Hình ảnh bào mòn ở mấu động lớn xương cánh tay.

Chẩn đoán định khu tổn thương: dựa vào khám các nghiệm pháp lâm sàng cho nhận định tương đối vị trí gân cơ hoặc bao hoạt dich tổn thương. Để chẩn đoán chính xác cần dựa vào phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc cộng hưởng từ khớp vai.

Điều trị

Theo YHHD

Điều trị viêm quanh khớp vai thể đơn thuần chủ yếu là điều trị nội khoa, chỉ điều trị can thiệp qua nội soi khi có rách hoàn hoàn gân cơ chóp xoay. Điều trị sớm có tiên lượng phục hồi tốt hơn điều trị muộn.

Nội khoa: mục tiêu là giảm đau, chống viêm, duy trì tầm vận động của khớp vai.

Vật lý trị liệu

Điều trị bằng thuốc tân dược

Điều trị can thiệp

Theo YHCT

Theo y học cổ truyền viêm quanh khớp vai thuộc chứng kiên tý, kiên thống…

Có thể sử dụng Thuốc đông y, xoa bóp bấm huyệt, châm cứu, tập luyện khí công, chế độ ăn uống…

Kết luận

Trên đây là một số thông tin về bệnh viêm quanh khớp vai, hy vọng thông tin này sẽ có ích cho mọi người trong phòng bệnh và chữa bệnh.

 Chúc mọi người luôn khỏe mạnh và bình an trong cuộc sống !